Thứ sáu, 14/06/2013 9:17

Cơ sơ lý thuyết của Diện Chẩn

GS.TSKH. Bùi Quốc Châu



ĐỊNH NGHĨA
Diện chẩn (chẩn đoán vùng mặt) là phương pháp chẩn đoán dựa vào sự khảo sát bằng nhiều hình thức khác nhau như: nhìn bằng mắt, khám bằng tay, hoặc bằng các dụng cụ hay máy móc, nhằm phát hiện những biểu hiện về bệnh lý xuất hiện một cách có hệ thống trên khuôn mặt của bịnh nhân. Những thuyết của diện chẩn được trình bầy dưới đây, hầu hết, được xây dựng từ những kinh nghiệm lâm sàng thực tiễn đã được kiểm nghiệm rất nhiều lần, và được phân loại theo 8 bộ như sau:
 
1. THUYẾT PHẢN CHIẾU
Vũ trụ, xã hội và con người là một thể thống nhất (vạn vật đồng nhất thể). Do đó, con người là sự phản chiếu của vũ trụ (nhân thân tiểu thiên địa). Trong con người, mỗi bộ phận đặc thù (ví dụ như mặt, bàn chân, bàn tay, loa tai, mũi, mắt, v.v…) đều phản chiếu cái tổng thể của nó (tức là cơ thể).
Mặt là một bộ phận tiêu biểu, đại diện cho toàn cơthể. Do đó, mọi trạng thái thuộc về tâm lý, sinh lý, bịnh lý của con người, đều được biểu hiện trên bộ mặt. Hay nói một cách khác hơn: bộ mặt chính là tấm gương phản chiếu, ghi nhận một cách có hệthống, có chọn lọc, những gì thuộc về phạm vi con người, ởtrạng thái tĩnh và động của nó.
Thuyết này được áp dụng vào khoa diện chẩn như sau:
Mỗi huyệt trên mặt là điểm phản chiếu của một hay nhiều huyệt trong cơ thể tương ứng với nó.
 
2. THUYẾT BIỂU HIỆN
Thuyết biểu hiện được biểu hiện qua 3 góc độ:
Không gian: những gì bên trong sẽ hiện ra bên ngoài, những gì bên dưới sẽ hiện lên trên.
Thời gian:
-những gì sắp xẩy ra sẽ được báo trước.
-những gì đã xẩy ra đều lưu lại dấu vết.
-những gì đang xẩy ra đều lưu lại biểu hiện.
Biểu Hiện Bịnh Lý: những biểu hiện này (xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau) được thể hiện trên mặt một cách có hệ thống và có chọn lọc, được gọi là biểu hiện bịnh lý (hay thông tin bịnh lý). Chúng có tính chất 2 chiều thuận nghịch và đặc biệt nơi có biểu hiện bịnh lý cũng là nơi điều trị bịnh. Ví dụ: tàn nhang nơi mặt là biểu hiện của bịnh lý và cũng là nơi chữa bịnh.
Ngoài ra mỗi dạng biểu hiện bịnh lý cho mỗi ý nghĩa khác nhau.
 
3. THUYẾT PHẢN HIỆN
Theo luật biểu hiện, dấu hiệu bịnh xuất hiện theo tỷ lệ thuận với bịnh trạng hay sự suy kém sức khỏe của cơthể. Tuy nhiên, có sự phản nghịch trong một số trường hợp nhưsau:
Có quá nhiều dấu vết hay điểm báo bịnh so với bịnh trong cơ thể, hay có quá ít, hoặc không có dấu vết nào báo bịnh, so với bịnh tật đang xẩy ra trong cơ thể. Hiện tượng này, được ví như mạng lưới thông tin từ cơ thể lên mặt bị rối loạn hay tắc nghẽn. Các trường hợp này thường ít có giá trị về mặt chẩn đoán hay trị liệu.
 
4. THUYẾT CỤC BỘ
Khi một cơ quan hay một bộ phận nào trong cơ thể, có sự bất ổn tiềm tàng, hay đang thời kỳ diễn tiến, thì DA tại vùng đó sẽ xuất hiện những dấu hiệu báo bịnh tương ứng. Quy luật này chi phối trên toàn cơ thể hơn là bộ mặt. Ví dụ: da ở vùng gan có tàn nhang, nốt ruồi (đen hay đỏ) hoặc tia máu có nghĩa là gan có bịnh. Thuyết này khi ứng dụng với phương pháp Diện Chẩn còn được ứng dụng như sau:
Mỗi huyệt ngoài tác dụng ở xa (tới các cơquan), nó còn có tác dụng cục bộ (tại chỗ) và lân cận nữa. Ví dụ: huyệt 188, ngoài tác dụng làm giảm đau cổ gáy và hạ huyết áp, còn làm sáng mắt (vì ở gần mắt). Huyệt 180, ngoài tác dụng làm giảm đau ngón tay cái, còn có tác dụng làm giảm đau vùng thái dương (vì ở vùng thái dương).
 
5. THUYẾT ĐỒNG BỘ
Có sự tương ứng về vị trí, số lượng, sắc độ, hình thái và thời kỳ xuất hiện, giữa các loại dấu báo bịnh trên mặt và bên dưới cơ thể. Tuy nhiên, đôi khi cũng có ngoại lệ: các dấu hiện báo bịnh chỉ xuất hiện một trong hai nơi (hoặc trên mặt hoặc bên dưới cơthể), hoặc xuất hiện không đồng thời với nhau và có khi không cùng lúc với bịnh, thậm chí xuất hiện rất xa thời kỳ bịnh tật xẩy ra.
 
6. THUYẾT BIẾN DẠNG
Các dấu hiệu báo bịnh trên mặt không phải bất biến, mà trái lại, thường hay thay đổi tính chất, mầu sắc và hình thái tùy theo thời gian, mức độ (nặng, nhẹ), tình trạng và diễn tiến bịnh tật của từng cá nhân. Ví dụ: bịnh trạng đang diễn tiến thì tàn nhang hay vết nám nơi vùng da tương ứng với cơ quan hay bộ phận bị bịnh có mầu sắc đậm hơn hoặc bóng hơn. Ngược lại, khi bịnh nơi cơ quan đó thuyên giảm, hay bớt đi, thì vùng da đó có mầu nhạt hơn. Tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp ngoại lệ như: nốt ruồi ở cạnh nhân trung báo bịnh ở noãn sào, mặc dù chữa hết bịnh tại noãn sào thì nốt ruồi vẫn không biến mất.
 
7. THUYẾT ĐỒNG ỨNG
Những gì giống nhau hay tương tự nhau thì có liên hệ mật thiết, tìm về, kết chặt và tác động lẫn nhau.
 
Thuyết Đồng Hình Tương Tụ
Những gì có hình dạng tương tự như nhau, thì có liên hệ mật thiết và tác động lẫn nhau. Ví dụ: cánh mũi có hình dáng tương tự như mông, do đó liên hệ tới mông. Hoặc sống mũi có hình dáng tương tự như sống lưng, do đó có liên hệ tới sống lưng.
 
Thuyết Đồng Tính Tương Liên
Những gì có tính chất tương tự nhau thì có liên hệ mật thiết, thu hút và tác động lẫn nhau qua hình thức tăng cường (sinh) hay hoá giải lẫn nhau (khắc).
 
8. THUYẾT GIAO THOA
Thông thường thì các dấu hiệu chẩn đoán hiện ra ở cùng bên với cơ quan hay bộ phận bị bịnh. Ví dụ: gờ mày bên mặt của bịnh nhân có dấu hiệu báo bịnh, thì cánh tay bên mặt của bịnh nhân bị đau (vì gờ mày liên hệ tới cánh tay). Nhưng có một số các dấu hiệu chẩn đoán (dấu hiệu báo bịnh) ở vùng mắt, tay, chân, buồng trứng, và mông của đồ hình trên mặt thỉnh thoảng có tính giao thoa đối với một số bịnh nhân. Hiện tượng này, cũng thấy xẩy ra đối với các huyệt ở các vùng và bộ phận nói trên. Trường hợp này, thường có sự gia tăng mức độ nhậy cảm nơi huyệt hoặc tình trạng bịnh đối với các bộ phận nói trên. Ví dụ: chân mày bên phải có tàn nhang, thì cánh tay bên trái có bịnh. Đối với những tình trạng giao thoa này, bịnh trạng thường nặng hơn bình thường.
Trên đây là 8 thuyết căn bản của phương pháp Diện Chẩn. Để đạt được kết quả tốt trên lâm sàng, ngoài việc nắm vững 8 thuyết căn bản trên, người áp dụng còn phải biết linh động vận dụng một cách sáng tạo tùy theo từng ca bịnh.

(Theo tài liệu của Nhóm Diện Chẩn AZ-CA - Giáo trình Diện chẩn học)

 

theo dienchan-baigiang.blogspot.com